Siêu dự án điện hạt nhân Ninh Thuận: Việt Nam gấp rút chuẩn bị 4.000 nhân lực cho cột mốc 2030

Điện hạt nhân Ninh Thuận tăng tốc về đích: Việt Nam cần khoảng 4.000 nhân lực để hiện thực hóa mục tiêu 2030

Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đang bước vào giai đoạn triển khai quyết định với mục tiêu hoàn thành trước năm 2030. Tuy nhiên, bên cạnh nguồn vốn và công nghệ, bài toán về nhân lực, khung pháp lý, giải phóng mặt bằng và năng lực làm chủ công nghệ được đánh giá là những yếu tố then chốt quyết định tiến độ của dự án năng lượng quy mô lớn này.

Mục tiêu hoàn thành trước năm 2030 tạo áp lực lớn cho toàn dự án

Theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp Ban Chỉ đạo xây dựng Nhà máy điện hạt nhân vào tháng 2/2025, dự án được yêu cầu phấn đấu hoàn thành đầu tư xây dựng trước ngày 31/12/2030, chậm nhất là 31/12/2031.

Trong đó, EVN được giao làm chủ đầu tư Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, còn Petrovietnam phụ trách Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Hai dự án dự kiến gồm 4 tổ máy, song đến giữa năm 2026, nhiều nội dung quan trọng như công suất, tổng vốn đầu tư, phương án tài chính và công nghệ vẫn đang được tiếp tục đàm phán, thẩm định và hoàn thiện.

Điều này cho thấy dự án đã chuyển sang giai đoạn triển khai cụ thể hơn, nhưng vẫn còn nhiều đầu việc cần xử lý trước khi bước vào thi công đồng loạt.

Không chỉ xây nhà máy, cả hệ thống phải chạy cùng tiến độ

Điện hạt nhân là lĩnh vực có yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt về an toàn, vì vậy tiến độ không chỉ phụ thuộc vào công trường mà còn gắn chặt với hàng loạt thủ tục pháp lý và kỹ thuật.

Trong năm 2026, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế quan trọng nhằm thúc đẩy dự án. Tháng 3/2026, Nghị quyết 46/NQ-CP được ban hành để tổ chức thẩm định điều chỉnh chủ trương đầu tư Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Tiếp đó, Thủ tướng thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước, trong khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng điều chỉnh, bổ sung một số cơ chế đặc thù nhằm tạo điều kiện triển khai dự án.

Bên cạnh đó, Thông tư 07/2026/TT-BKHCN, có hiệu lực từ cuối tháng 3/2026, đã hoàn thiện các quy định về an toàn hạt nhân đối với địa điểm xây dựng, thiết kế, thi công và đánh giá an toàn nhà máy.

Theo các chuyên gia, với dự án điện hạt nhân, mỗi quyết định liên quan đến công nghệ, thiết kế hay vận hành đều phải trải qua quy trình đánh giá nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn quốc tế, không thể rút ngắn bằng cách cắt giảm các bước kiểm định.

Giải phóng mặt bằng và hạ tầng cũng là “đường găng” của dự án

Song song với thủ tục đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư và xây dựng hạ tầng phục vụ thi công cũng được xem là yếu tố quyết định.

Nếu các khu tái định cư, hệ thống giao thông kết nối, cấp điện, cấp nước hoặc cảng tiếp nhận thiết bị siêu trường, siêu trọng không hoàn thành đúng tiến độ, kế hoạch xây dựng nhà máy sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể.

Sau khi các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được điều chỉnh trong năm 2026, địa phương cùng các bộ, ngành liên quan đang tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý mới nhằm bảo đảm quá trình triển khai không bị gián đoạn.

Theo đánh giá, mốc năm 2030 chỉ có thể đạt được khi toàn bộ các khâu từ pháp lý, huy động vốn, lựa chọn công nghệ, thiết kế kỹ thuật, đào tạo nhân lực, giải phóng mặt bằng đến xây dựng hạ tầng được triển khai đồng bộ.

Việt Nam cần khoảng 4.000 nhân lực cho hai nhà máy điện hạt nhân

Một trong những bài toán lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Theo Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035, Việt Nam cần khoảng 4.000 lao động phục vụ hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vào năm 2030, trong đó hơn 2.000 người có trình độ đại học và sau đại học.

Theo TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đội ngũ kỹ sư không chỉ phục vụ giai đoạn xây dựng mà còn phải đủ năng lực tiếp nhận công nghệ, vận hành, bảo trì và từng bước làm chủ hệ thống trong nhiều thập kỷ.

Ngoài lực lượng trực tiếp vận hành nhà máy, Việt Nam còn cần nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị hỗ trợ kỹ thuật, giám sát an toàn, quan trắc môi trường, xử lý nhiên liệu đã qua sử dụng và đào tạo các thế hệ kế cận.

Làm chủ công nghệ mới là mục tiêu lâu dài

Các chuyên gia nhận định, việc xây dựng nhà máy có thể nhận được sự hỗ trợ từ đối tác quốc tế, nhưng trách nhiệm bảo đảm an toàn và vận hành lâu dài vẫn thuộc về Việt Nam.

Do đó, lựa chọn đối tác không chỉ dựa trên công nghệ hay chi phí đầu tư ban đầu mà còn phải gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ kỹ thuật và đồng hành trong suốt vòng đời dự án.

Việc xác định công nghệ càng sớm sẽ càng tạo điều kiện xây dựng chương trình đào tạo phù hợp. Ngược lại, nếu quá trình đàm phán kéo dài, nguy cơ thiếu hụt kỹ sư trong giai đoạn lắp đặt, chạy thử và vận hành sẽ gia tăng.

Đặc biệt, đào tạo nhân lực điện hạt nhân là quá trình dài hạn, đòi hỏi nhiều năm học tập, thực hành tại các nhà máy tham chiếu và vượt qua những quy trình đánh giá nghiêm ngặt trước khi có thể đảm nhận công việc.

An toàn phải song hành với tiến độ

Bên cạnh nhân lực, dự án còn đặt ra yêu cầu lớn về nguồn vốn và cơ chế tài chính. Điện hạt nhân có suất đầu tư rất cao, thời gian xây dựng kéo dài và phát sinh nhiều chi phí trong suốt vòng đời như bảo dưỡng, xử lý nhiên liệu, tháo dỡ nhà máy sau khi hết thời gian khai thác.

Vì vậy, các gói hợp tác quốc tế cần được đánh giá trên tổng thể, bao gồm công nghệ, tài chính, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo, bảo trì, xử lý chất thải và trách nhiệm hỗ trợ lâu dài.

Điện hạt nhân được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn điện nền ổn định cho hệ thống năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi tiến độ, chất lượng và tiêu chuẩn an toàn được triển khai song song.

Trong bối cảnh quỹ thời gian đến năm 2030 không còn nhiều, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đang bước vào giai đoạn mang tính quyết định. Nếu các mắt xích từ pháp lý, nhân lực, công nghệ, tài chính đến hạ tầng được triển khai đồng bộ, đây sẽ không chỉ là dự án năng lượng trọng điểm mà còn tạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp điện hạt nhân Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

LIÊN HỆ